Ông Vũ Trung Kiên, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu, trao đổi với Báo Nhân Dân về việc công nhận tín chỉ carbon là mặt hàng đặc biệt.

Trao đổi tín chỉ carbon là một khái niệm mới ở Việt Nam. Ông có thể giải thích thêm về mô hình này được không?
Trên thực tế, tín chỉ carbon đã được sử dụng ở Việt Nam trong nhiều năm, kể từ khi nước này triển khai các dự án Cơ chế phát triển sạch (CDM) theo Nghị định thư Kyoto vào đầu năm 2008.
Gần đây khái niệm này đã xuất hiện trong một số dự án hợp tác với các đối tác quốc tế để trao đổi tín chỉ phát thải, như Thỏa thuận thanh toán giảm phát thải khu vực Bắc Trung Bộ (ERPA), Dự án khí sinh học trong chăn nuôi.
Việt Nam có thể sản xuất tín chỉ carbon và đã bán chúng, tuy nhiên những giao dịch này chưa nhận được nhiều sự quan tâm.
Chúng tôi muốn xây dựng một sàn giao dịch nơi các giao dịch tín chỉ carbon của Việt Nam có thể được thực hiện một cách tổng thể, giữa người mua và người bán.
Mục tiêu của chúng tôi là thể hiện nỗ lực thực hiện các cam kết tại Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, tạo sân chơi cho khu vực doanh nghiệp cùng chung tay nỗ lực với Nhà nước.
Cơ quan quản lý nhà nước cũng có thể sử dụng điều này để đánh giá thị trường cũng như có công cụ hỗ trợ quản lý các giao dịch tín dụng của Việt Nam.
Tại lễ hội khởi nghiệp toàn quốc Techfest 2020, ông và các đồng nghiệp đã giới thiệu dự án thí điểm trao đổi tín chỉ carbon, nhằm xây dựng một sàn giao dịch dựa trên công nghệ Blockchain 4.0 cho các hàng hóa đặc biệt như tín dụng carbon, chứng chỉ xanh và trái phiếu xanh. Mục tiêu của ông cho sáng kiến này là gì?
Tôi cho rằng cần huy động sự nỗ lực của toàn dân để góp phần chống biến đổi khí hậu.
Bản thân các chính phủ sẽ không thể giảm lượng khí thải. Doanh nghiệp và người dân có thể tham gia như thế nào?
Ưu tiên hàng đầu là tạo cơ chế động lực, cơ chế thị trường để doanh nghiệp tham gia.
Để đạt được các mục tiêu về khí hậu phù hợp với cam kết quốc tế của Việt Nam cần có nguồn vốn lớn.
Thị trường tín chỉ carbon là nguồn vốn quan trọng giúp các doanh nghiệp và nền kinh tế đất nước chuyển đổi từ nền kinh tế nâu (dựa vào tài nguyên) sang xanh, vừa giảm phát thải khí nhà kính, vừa tạo động lực, lợi nhuận cho doanh nghiệp và đất nước.
Khái niệm này còn khá mới mẻ với nhiều người dân Việt Nam, nhưng trên thực tế, theo CDM, tín chỉ carbon đã được mua bán từ năm 2008 .
Tuy nhiên, xét trên phương diện quốc gia, vẫn chưa có cơ chế cụ thể nào.
Các bộ, ngành chưa thực sự chủ động tham gia, cũng như chưa có tầm nhìn chiến lược để chuyển nền kinh tế từ nâu sang xanh.
Tại Techfest 2020, tôi và các đồng nghiệp đã giới thiệu Sàn giao dịch tín dụng Carbon, nhằm xây dựng một sàn giao dịch dựa trên công nghệ Blockchain 4.0 cho các loại hàng hóa đặc biệt như tín dụng carbon, chứng nhận xanh và trái phiếu xanh.
Chúng tôi tin rằng cần phải nhìn nhận thị trường tín chỉ carbon là yếu tố chiến lược để thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam trong tương lai, trong đó có hai trụ cột là Xanh và Kỹ thuật số.
Đây cũng là hai yếu tố mà trao đổi tín chỉ carbon có lợi thế.
Sau khi vận hành thử nghiệm, các anh đã rút ra bài học gì để giúp xây dựng sàn giao dịch tín chỉ carbon chính thức tại Việt Nam trong tương lai theo chỉ đạo của Chính phủ?
Cần phải nói rõ rằng thử nghiệm của chúng tôi là một nỗ lực thị trường tự nguyện nhằm giúp các doanh nghiệp tham gia đóng góp vào các mục tiêu chung của đất nước, đồng thời hỗ trợ các hoạt động và cam kết của Chính phủ đối với các thị trường tuân thủ quốc tế.
Sau khi thử nghiệm, chúng tôi đã rút ra được những bài học, kinh nghiệm quý báu cũng như có những điều chỉnh phù hợp với điều kiện và chính sách thị trường Việt Nam.
Bài học đầu tiên là phải đáp ứng các điều kiện, đồng bộ nhiều mặt hàng mới có thể hỗ trợ sự phát triển của cả hai bên thị trường, cả người bán và người mua tín dụng.
Chúng tôi nhận thấy rằng để xây dựng thành công các nền tảng giao dịch tín chỉ carbon cần phải có tầm nhìn tương lai, kết hợp với việc không ngừng học hỏi các mô hình hiện có trên thế giới, phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Một bài học khác là tầm quan trọng của chính sách. Ví dụ, nền tảng dựa trên công nghệ blockchain đã hoàn thiện và sẵn sàng đưa vào vận hành nhưng cần phù hợp với chính sách và điều kiện của Việt Nam.
Ông đánh giá thế nào về tiềm năng thị trường carbon hiện nay của Việt Nam?
Việt Nam có tiềm năng lớn để xây dựng thị trường carbon. Chúng ta có một số lợi thế trong các ngành công nghiệp giúp giảm thiểu và loại bỏ khí carbon dioxide.
Nhưng chúng ta phải tận dụng thời gian; thời hạn đang đến rất nhanh.
Hiện tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam hiểu và thực hiện kiểm kê phát thải khí nhà kính rất thấp, chưa đến 1% so với danh sách 1.912 doanh nghiệp phải kiểm kê, chưa kể hàng trăm nghìn công ty.
Sự phát triển của thị trường carbon trong nước sẽ gặp phải những khó khăn gì?
Trước hết là khuôn khổ pháp lý trong nước và yêu cầu quốc tế.
Thứ hai là sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là các doanh nghiệp có trách nhiệm giảm phát thải. Chính phủ có thể đưa ra các cam kết quốc tế, nhưng thực tế mức giảm còn phụ thuộc hoàn toàn vào nỗ lực và sự tham gia của doanh nghiệp.
Ngoài ra, tôi cho rằng nguồn lực tài chính và đổi mới công nghệ cũng là thách thức rất lớn.
Cần phải chú ý đến giá tín dụng. Theo thống kê của chúng tôi, Việt Nam có 262 dự án bán tín chỉ carbon theo cơ chế CDM, trong đó chủ yếu là các dự án thủy điện.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp đã có một số dự án bán tín dụng. Tại sáu tỉnh Bắc Trung Bộ, họ bán carbon dioxide với giá 5 USD/tấn cho Ngân hàng Thế giới. Ngoài ra còn có một số dự án lâm nghiệp khác bán carbon dioxide với giá 17 USD/tấn.
Những mức giá này rất khác nhau tùy thuộc vào dự án và người mua. Đây cũng là thực trạng chưa nhất quán của thị trường carbon thế giới.
Nhiều ý kiến cho rằng Nhà nước cần ban hành thêm quy định về trao đổi, kết nối tín chỉ carbon để thị trường minh bạch, đáp ứng được yêu cầu quốc tế. Ông nghĩ gì về điều này?
Đối với thị trường tín dụng carbon, xu hướng bãi bỏ quy định là quan trọng. Nhà nước không nên ban hành quá nhiều quy định.
Đối với những cái mới, cần có những hướng dẫn, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để khuyến khích tinh thần tham gia, dám nghĩ dám làm.
Tôi nghĩ Nhà nước chỉ cần hướng dẫn, tôn vinh, khuyến khích các doanh nghiệp tiên phong đạt tiêu chuẩn quốc tế sẽ tạo làn sóng phấn khởi khi doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích, từ đó giúp nước ta đạt được mục tiêu giảm phát thải như đã cam kết với cộng đồng thế giới.- ( VNS/VLLF)
